A. TỔNG QUAN:
Viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, đau nhức các khớp đều thuộc phạm vi chứng tý của Y học cổ truyền (tý nghĩa là tắc)
- Viêm khớp dạng thấp là một bệnh kéo dài thường có những đợt tiến triển cấp: Sưng, nóng, đỏ, đau nhức các khớp, hay gặp ở các khớp nhỏ, đối xứng với nhau.
- Vị trí các khớp viêm như: Khớp ngón tay, bàn tay, cổ tay, khuỷu tay, ngón chân, bàn chân, đầu gối, có khi có khớp háng và cột sống. Lâu ngày các khớp biến dạng dính cứng khớp làm hạn chế hoặc mất vận động

B. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ SINH BỆNH:
- Phần nhiều do sinh hoạt không điều độ, cơ thể suy kém hoặc sau khi lao động đang ra mồ hôi ngồi giữa luồng gió hoặc đi tắm mà bị gió lạnh hoặc ở chổ ẩm thấp lâu ngày làm cho tà khí của Phong, Hàn, Thấp thừa lúc cơ thể yếu xâm nhập vào làm kinh lạc bế tắc gây bệnh.
- Có thể do người già Gan, Thận bị hư (suy) hoặc bệnh lâu ngày kết hợp với Phong, Hàn, Thấp làm khí huyết giảm sút. Thận hư không chủ được cốt tủy, Can huyết hư không nuôi dưỡng được cân làm xương và khớp xương bị thoái hóa, biến dạng cơ bị teo và khớp bị dính,…

C. TRIỆU CHỨNG:
- Viêm khớp dạng thấp có đợt tiết triển cấp (y học dân tộc gọi là phong thấp nhiệt tý): Các khớp sưng, nóng, đỏ, đau (hay xuất hiện đối xứng), ngày nhẹ đêm nặng, co duỗi cử động khó khăn, sốt ra mồ hôi, sợ gió, rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi đỏ, nước tiểu vàng. Mạch hoạt sác
- Viêm khớp dạng thấp kéo dài có biến dạng teo cơ, dính cứng khớp

D. ĐỐI TƯỢNG DỄ MẮC VIÊM KHỚP DẠNG THẤP:
- Phụ nữ
- Người cao tuổi
- Người nghiện thuốc lá
- Người thường xuyên tiếp xúc với các hóa chất độc hại
- Người béo phì
- Gia đình có người mắc
D. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN:
- Viêm khớp dạng thấp có đợt tiết triển cấp: Khu phong, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, lợi niệu trừ thấp
- Viêm khớp dạng thấp kéo dài có biến dạng teo cơ, dính cứng khớp: Khu phong, thanh nhiệt, trừ thấp
E. ĐỀ PHÒNG BỆNH TÁI PHÁT:
- Uống thuốc Bổ can thận, lương huyết, khu phong trừ thấp
- Luyện tập, rèn luyện cơ thể thích ứng dần với hoàn cảnh thời tiết