Có tác dụng bổ âm, thanh tâm hạ hỏa, nhuận phế, dưỡng vị sinh tân, hóa đờm chỉ ho, chữa hư lao, ho, thổ huyết, ho ra máu, miệng khô khát, bệnh nhiệt tân dịch khô.
Dẹp tà hỏa ngấm ngầm ở tạng Phế, chữa chứng Phổi yếu mà thổ ra mủ tanh hôi, thấm nhiệt cho tạng Tâm để huyết khỏi đi rông lên cùng thêm tinh, giải khát, thanh đàm đặc ở trên ngực, trừ đầy chướng ở dưới quả tim, chữa tắt tia sữa (xuống sữa), điều kinh. Lui được hư nhiệt, nhất là chứng Phổi ráo ho luôn miệng.
Dùng làm thuốc chữa ho long đờm, thuốc bổ (bệnh Phổi, gầy còm), chữa thiếu sữa, lợi tiểu, sốt khát nước.
Chủ trị khí tích tụ ở khoang ngực bụng, do táo nhiệt tân khô khiến cho khí vị thượng nghịch vị kinh không thông, mạch khí suy tận.
Ngoài ra, còn có tác dụng cải thiện tình trạng cơ thể suy nhược gầy yếu (vì bổ dạ dày sinh cơ bắp, thanh trừ hỏa thì có thể bổ nguyên khí), trị chứng hơi thể gấp thiếu lực.
Dùng trong thời gian lâu dài giúp cho cơ thể khỏe mạnh nhanh nhẹn, làm chậm quá trình lão hóa, giảm cảm giác đói.
Do có đặc tính dưỡng âm, nhuận táo ở phổi nên thích hợp dùng cho các chứng bệnh ho có đờm, rát họng, khô mũi, thở gấp, nôn ra máu, ho ra máu.
Do có đặc tính dưỡng vị, sinh tân nên thích hợp dùng cho các chứng bệnh như tổn thương âm khí do nhiệt nóng, miệng lưỡi khô, lưỡi đỏ ít rêu do vị âm bị tổn hao.
Do có đặt tính thanh tâm trừ phiền muộn nên thích hợp dùng cho các chứng tâm hỏa vượng, mất ngủ, phiền muộn, tim đập nhân và loạn nhịp. Mặt khác có thể trị được các bệnh như cơ thể nhiệt nóng, buồn bực, thần trí không tỉnh táo, lưỡi đỏ mà khô.
Do có tác dụng nhuận tràng thông tiện nên thích hợp cho các chứng bệnh như ruột khô táo, đại tiện khó do âm hư.
Ngoài ra, còn có tác dụng nâng cao chức năng co bóp của cơ tim và khả năng chống chịu tình trạng thiếu dưỡng khí nên cũng có hiệu quả tốt đối với các chứng bệnh về tim, phổi, não.
Uống với Nhân Sâm và Ngũ Vị là bài “sinh mạch tán” để bổ khí sinh tân dịch.
Uống với vị Địa Hoàng, A Giao, Ma Nhân thì thêm huyết và giúp hành kim, mạnh hành thủy.
Thuốc để bổ âm nhuận Phế thì dùng sống. Bổ cả Tỳ Phế thì nên sao với gạo vàng rồi bỏ gạo mà dùng. Bỏ lõi là sợ uống vào sinh ra phiền buộn.
Người yếu mà Tỳ Vị hư hàn thì dùng ít mà sao.
Mạch môn đông và Thiên môn đông đều có tác dụng công hiệu dưỡng âm nhuận phế nhưng Mạch môn đông còn kiêm bồi bổ vị âm, hạ hỏa ở tim còn Thiên môn đông thì kiêm bổ thận âm, thường phối hợp với Tri mẫu, Hoàng bá, Thục địa trị các chứng âm hư hỏa vượng, tiêu khát, di tinh,…
Ngoài ra Mạch môn đông không hàn nhiều như vị Thiên môn đông nên người mạnh mà hỏa thịnh có thể dùng nhiều và dùng sống.
Lưu ý: Người có chứng hàn thấp nên dùng ít. Người tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng, chứng sản hậu không nên dùng.
Vị này ghét vị Khoản đông hoa. Sợ vị Khổ sâm. Đi đôi với vị Đại hoàng, Xa tiền.


