Trong Tây y, Quế và tinh dầu Quế được coi là một vị thuốc có tác dụng kích thích làm cho sự tuần hàn nhanh lên (huyết được lưu thông), hô hấp cũng mạnh lên, Quế còn gây co mạch, sự bài tiết cũng được tăng lên, còn gây co bóp tử cung và tăng nhu động ruột. Tinh dầu có tính sát trùng mạnh
Đông y coi quế là một vị thuốc bổ, có nhiều công dụng có khi chữa cả đau mắt, ho hen, bồi bổ cho phụ nữ sau sinh nở, bệnh đau bụng đi tả nguy hiểm.
Bổ mệnh môn tướng hỏa, trị cố lãnh trầm hàn, dùng chữa chân tay co quắp, lưng gối tê mỏi, bụng quặn đau, đau bụng dưới, kinh nguyệt bế, tiểu tiện bất lợi, trên nóng dưới lạnh, ung thư
Dẹp tà khí ở tạng Can, thông hơi thở cho tạng phế, chữa mọi chứng khó nhọc, thương tổn, mạnh gân cốt và việc sinh lý, nuôi Tâm Thận thông huyết mạch, chứng khí trong bụng bôn đồn lên, chứng sán – khí và chứng Hà.
Chữa chứng hư phiền, liễm mồ hôi, dưỡng tinh tỷ, ấm lưng gối, trừ phong thấp và tê vì lạnh, chữa chứng ho đàm, chứng ung nhọt ở mũi và tỏ mắt, hòa nhan sắc, tuyên thông mạch lạc. Còn có tác dụng bổ hỏa cho mệnh môn và đẩy nọc của nhọt, đậu ra ngoài
– Nhục Quế (vỏ Quế)
- Vị Cay, Ngọt; tính nóng; vào tạng Can và tạng Thận
- Vị này giúp cho người nguyên dương quá lạnh hay Tỳ Vị yếu mà hàn, dẹp tà khí ở tạng Can, thông hơi thở cho tạng Phế, chữa mọi chứng khó nhọc, thương tổn, mạnh gân cốt và việc sinh lý, nuôi Tâm Thận thông huyết mạch, chữa chứng đau bụng dưới, chứng khí trong bụng bôn đồn lên, chứng sán khí và chưng hà, chứng hư phiền, liễm mồ hôi, dưỡng tinh tỷ, ấm lưng gối, trừ phong thấp và tê vì lạnh, chữa chứng ho đàm, chữa ung nhọt ở mũi và tỏ mắt, hòa nhan sắc, tuyên thông mạch lạc. Công hiệu nhất là bổ hỏa cho mệnh môn và đẩy nọc của nhọt, đậu ra ngoài
- Dù hơi có chất độc nhưng uống với Hoàng Cầm, Hoàng Liên thì chất độc sẽ hết
- Nếu uống với Ba Đậu, Ô Phụ, Lá Sơn khô thì chất độc thêm lên
- Uống với Sâm, Mạch Môn, Cam Thảo thì bổ Khí
- Uống với Thục Địa thì hòa huyết và chữa chứng thổ nghịch
Người có thai phải kiêng. Người dương khí mạnh mà âm huyết hư tổn không nên dùng. Vị này kiêng lửa nên chỉ mài mà uống. Kỵ Hành Sống và vị Xích Thạch Chi
– Quan Quế (loại Quế ngày xưa công nạp cho vua)
- Vị này khác với Nhục Quế chỉ ôn và không có chất độc, vào 2 tạng Tâm Tỳ
- Chữa chứng ở trong lạnh, chứng bụng trên bụng dưới đau, chứng đau vì gió lạnh, chứng khó nhọc thương tổn, chứng ho ngược lên, chứng hít thở không được nhẹ nhàng, lại thông mạch, thông khiếu, ôn cho gân và đốt xương, làm co mạch, tăng sự bài tiết, tăng co bóp tử cung, tăn nhu động rượt, tinh dầu có tính chất sát trùng, tóm lại tựa như Nhục Quế mà công hiệu hơn
– Quế Chi (cành Quế):
- Vị này là cành Quế, tính nhiệt, hơi có độc, vào hai kinh Tỳ và Bàng Quang
- Tản được phong hàn, chữa chứng chân tay tê, chứng không mồ hôi thì phát tán ra được, chứng có mồ hôi thì cầm lại được
Người âm khí yếu phải kiêng, chứng sốt thương hàn không mồ hôi không nên uống nhầm
– Quế Tâm:
- Thứ Quế ở cành to đã gọt hết vỏ mà ngọt nhiều. Tính Ôn; vào tạng Tâm nên gọi là Quế Tâm
- Chữa chứng sản hậu không ra nhau hay là huyết xông lên mà đau bụng trên. Chứng thổ ra huyết hay là nhổ ra huyết. Lại thông kinh nguyệt, hành huyết thông trệ, uống với thuốc bổ âm thì thuốc không ngừng trệ mà đến được tạng Thận cho nên có công bổ cả âm dương
- Chữa chứng chân mỏi mà bì ra, chứng trúng phong méo mồm cắn răng cứng lưỡi mất tiếng, cùng ôn bổ cho Khí ở tạng Thận lại chuyên chữa chứng đau bụng trên, chứng hai tinh hoàn một bên tụy xuống mà sưng đau


